Cha Marinô Tú
Trong một lần tìm kiếm tư liệu, chúng tôi tìm được bài viết về Cha Marinô Tú. Khi đối chiếu với lịch sử giáo xứ Hộ Diêm, phần tư liệu ghi lại các cha quản xứ và phó xứ đã phục vụ, thì không thấy nhắc đến cha ? Chắc chắn đây là một sự thiếu sót, vì cha đã có một năm phục vụ tại Hộ Diêm (1917-1918). Xin được trích đăng bài viết từ báo Mémorial de Quy Nhon số tháng 12 năm 1930
Cha Marinô Tú sinh năm 1867, tại họ Phú Trung – Tân Dinh. Ông bà thân sinh là Giacôbê và Maria Câu Hiển. Cha mẹ anh em lần hồi qua đời hết, cha chỉ còn lại duy nhất một người em làm bà nhất nhà phước Gia Hựu lúc bấy giờ, thường gọi là bà Nhất Thục.
Ban đầu cha theo giúp cố Trinh, sau ở với cố Bình (Père Laurent) rồi được cố cho vào trường Làng Sông vào năm 1881. Đến năm 1885, giặc Văn Thân nổi lên, phải chạy trốn xuống Qui Nhơn 3 tháng, rồi Đức Cha gửi ngài sang Pinang học 3 năm. Sau khi học xong Triết thì ngài trở về nước và Đức Cha sai đi giúp cố Đề ở Phan Rang 3 năm. Sau đó, ngài trở lại Làng Sông tiếp tục học và chịu năm chức, rồi ở tại trường làm thầy giáo 2 năm.
Tháng 12 năm 1896, ngài được lãnh nhận chức linh mục và bắt đầu đi phục vụ tại các xứ Tài Lương và Tân Long để giúp cố Bửu (8 năm), ở Nhơn Nghĩa (2 năm). Năm 1906, trở lại Gia Hựu, đến năm 1910 đi giúp ở Tân Dinh. Sau đó ngài giúp cố Thọ từ năm 1915 – 1917 tại Đại An. Từ năm 1917 – 1918, cha đi giúp tại Hộ Diêm. Sau hết thì về làm quản lý Nhà thương dành cho các cha bản xứ từ năm 1918- 1930.
Cha Marinô Tú là người đạo đức sốt sắng, tính hiền nết tốt. Lúc còn ở chủng viện, ngài ân cần lo việc bổn phận, giữ luật chín chắn, chẳng dám sai lỗi dù là điều nhỏ mọn. Ở với anh em thuận hòa khiêm tốn. Khi còn theo học ở Pinang, ngài được chọn là học sinh tốt nhất trường. Trò Marinô tính chất đơn sơ thật thà, hay tin lời phỉnh gạt của anh em đồng môn; tuy nhiên dầu bị phỉnh chọc, nhưng chẳng bao giờ ngài tỏ vẻ hờn giận. Đối với bề trên thì hết mực vâng phục tôn kính.
Đến khi làm linh mục rồi, ngài cũng chẳng đổi tính, luôn ân cần sốt sắng, chẳng quản ngại công lao, thường xuyên đi thăm viếng bổn đạo để an ủi, nhắc nhở. Phần mình, ngài ăn ở đơn sơ, khó nghèo, cần kiệm; nhưng đối với người khác thì ngài rộng rãi, thương xót kẻ nghèo hèn túng thiếu, không tiếc tiền bạc giúp đỡ. Bởi vậy, khi cha qua đời, mở tủ thì chẳng còn thấy dư lại đồng nào.
Cha giảng dạy giáo dân không văn hoa chải chuốt, nhưng ý nghĩa thâm trầm, sốt sắng làm người nghe dễ động lòng. Ngài có lòng tôn kính Đức Mẹ cách đặc biệt, nên hay khuyên nhắc mọi người thêm lòng trông cậy Đức Mẹ.
Đối với anh em linh mục, cha luôn vị nể kính nhường, tử tế với hết mọi người, không dám nặng lời với ai. Khi thấy anh em có điều gì lầm lỡ, cha luôn an ủi, khuyên lơn. Suốt 12 năm làm quản lý nhà thương, lòng yêu thương của cha đối với anh em linh mục lại càng thể hiện rõ rệt. Dầu cho có ai mắc bệnh hiểm nghèo hay phải đau đớn vì chứng bệnh nan y triền miên, cha vẫn không ái ngại mà lại luôn tận tình ngồi kề an ủi…
Tiếc thay! Cha không được sống lâu ở đời để cho mọi người được nhờ. Ngày 04 tháng 11 năm 1930, ngài bị cảm thương hàn nhẹ, nằm nghỉ trong nhà. Các cha khác cứ nghĩ ngài thường hay đau cảm như mọi khi nên không để ý, ai ngờ đến ba ngày sau (mùng 07 tháng 11) khi cha Tánh vào thăm thấy ngài thay đổi biến sắc, có dấu trở nặng sợ không qua khỏi nên cho gọi bác sĩ. Tuy nhiên dù còn tỉnh táo, nói được nhưng sức mỗi ngày một mỏn, nên đến khoảng 9g sáng Chúa nhật (09 tháng 11) thì ngài trút hơi thở.
Giáo phận định đến ngày thứ ba mới làm lễ an táng cho ngài, có ý cho các cha ở xa về kịp. Tuy nhiên, xác để lâu e không tiện nên đến chiều thứ hai đã an táng. Thánh lễ an táng đồng tế có 05 cha người Pháp và 21 cha bản xứ. Thi hài cha được chôn cất tại Đại An.
Thân cát bụi gửi tạm nơi lòng đất, hồn xin Chúa đón rước về chốn vĩnh hằng cao quang.
Chú ý: Việc đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác mà không ghi rõ nguồn http://www.giaoxuhodiem.net là vi phạm bản quyền